Xứ anh đào từ lâu đã sống nhờ vào dầu nhập. Còn Trung Quốc, vốn có khả năng tự cấp cho tới giữa thập kỷ 1990, đang phải nhập ngày càng nhiều dầu, trong bối cảnh nền kinh tế tiếp tục phát triển mạnh mà sản xuất dầu nội địa thì chững lại. Năm ngoái nước này qua mặt Nhật để trở thành quốc gia tiêu thụ dầu lớn thứ hai thế giới sau Mỹ. Theo thống kê của BP về tình hình năng lượng toàn cầu, nhu cầu dầu của Trung Quốc đã tăng 5,8% lên đến 5,36 triệu thùng dầu/ngày, hay 850.000 tấn. Còn theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế có trụ sở ở Paris, tỷ lệ giữa dầu nhập và tổng lượng dầu cho cả nước từ 34% năm 2002 sẽ lên đến hơn 80% năm 2030. Quy về lượng là tương đương với gần 10 triệu thùng dầu/ngày. Từ tháng 1 đến tháng 5 năm nay, lượng dầu thô nhập của Trung Quốc đã tăng 35,8% so với cùng kỳ năm trước - 36,2 triệu tấn.
Dầu từ Trung Đông (chiếm 60% trong tổng số 65 triệu tấn dầu Trung Quốc nhập năm 2001) chủ yếu được vận chuyển bằng tàu qua các tuyến đường biển ở quần đảo Indonesia. Ngoài nguy cơ xung đột có thể cắt đứt nguồn cung cấp, Trung Quốc cũng không đủ lực để đối phó với Mỹ, trong trường hợp Washington quyết định bao vây kinh tế. Điều này lý giải vì sao các tập đoàn dầu khí quốc gia như Công ty Dầu mỏ Quốc gia Trung Quốc (CNPC), SINOPEC và Công ty khai thác dầu ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc (CNOOC) tìm đến những khu vực gần hơn, như Nga, Trung Á và Indonesia để giúp đất nước có thêm khả năng kiểm soát an ninh nhiên liệu.
Hai thoả thuận chính trong thời gian gần đây, nếu đầu xuôi đuôi lọt, sẽ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng cho Trung Quốc và cung cấp 50 triệu tấn dầu từ nước ngoài mỗi năm - một lượng đáng kể vì năm ngoái tổng lượng dầu nhập của nước này đạt 70 triệu tấn. Ngày 28/5, trong khi Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đang ở thăm Nga, hai nhân vật đứng đầu tập đoàn quốc doanh CNPC và công ty dầu tư nhân Yukos đã ký một thoả thuận chung có giá trị trong 25 năm về việc cung cấp 150 tỷ USD dầu thô từ Đông Siberia. Nếu tất cả diễn ra theo đúng kế hoạch, năm 2005, dầu sẽ bắt đầu chảy dọc một ống dẫn dài 2.260 km từ Angarsk (gần hồ Baikal) tới Đại Khánh ở đông bắc Trung Quốc. “Chỉ với riêng thoả thuận này, Trung Quốc sẽ có thêm 20 triệu tấn dầu mỗi năm, tăng lên đến 30 triệu tấn năm 2010”, Handel Lee thuộc Vinson&Elkins (công ty luật Texas đang tư vấn CNPC về vụ giao dịch nói trên) bình luận.
Tuy nhiên, ngoài rắc rối về quyền sở hữu và chi phí cho đường ống, Trung Quốc còn gặp phải mối đe doạ từ phía Nhật, nước sẵn sàng bỏ tiền lắp một đường ống dài và tốn kém hơn từ Angarsk đến cảng Nakhodka của Nga bên biển Nhật Bản. Lắp đặt cả 2 đường ống quá tốn kém, trong khi Nga có thể không đủ lượng dầu để phục vụ cả hai nước. Cộng thêm vào áp lực này là chỉ tới khi dự án đi vào giai đoạn khởi công, thảo luận về một đường ống dẫn khí trị giá 10 tỷ USD mới được hoàn tất. Đó là đường ống dài 4.000 km, chạy song song với ống dẫn dầu Angarsk tới tận Đại Khánh. Đường ống khí sau đó sẽ chạy đến Bắc Kinh và Đại Liên, rồi xuyên qua biển tới Hàn Quốc.
Chưa đầy một tuần sau thoả thuận giữa CNPC và Yukos, Chủ tịch Hồ ngày 3/6 lại chứng kiến lễ ký, ở thành phố Astana (Kazakhstan), một thoả thuận giữa CNPC và công ty dầu khí quốc doanh Kazymunaygas để lắp đặt một đường ống dẫn dầu dài 3.100 km từ mỏ Aktyubinsk của Kazakhstan đến miền tây Trung Quốc. CNPC hiện có hai mỏ dầu ở quốc gia Trung Á, nhưng chưa đưa được dầu tại đây về nước. Đường ống này nhằm chuyển dầu đến miền tây Trung Quốc, sau đó sẽ hoà nhập vào mạng lưới quốc gia. Xương sống của cả hệ thống là một đường ống (hiện đang được lắp đặt) kéo dài từ lưu vực Tarim ở tỉnh Tân Cương tới cảng Thượng Hải.
Nhưng thoả thuận cũng gặp trở ngại. Trung Quốc đã tuyên bố họ chỉ lắp đường ống từ Kazakhstan một khi có 20 triệu tấn dầu/năm để chuyển qua đây. Dự trữ mỏ Aktyubinsk của CNPC chỉ đủ cung cấp một nửa lượng này. Trong khi đó, công ty đã thất bại khi tìm cách nâng cao sản luợng bằng cách đấu thầu giành cổ phần của British Gas trong mỏ dầu Kashagan ở biển Caspian, vì một số chủ sở hữu nước ngoài khác của Kashagan (bao gồm cả người Mỹ và Nhật) đã ra tay trước. Hơn nữa, Mỹ hiện muốn dầu của Kazakhstan chảy qua đường ống mới tới Azerbaijan, để rồi từ đây, nó sẽ được nối với một đường ống (đang xây dựng) tới cảng Ceyhan của Thổ Nhĩ Kỳ, bên bờ Địa Trung Hải. Ngay cả trường hợp dự án Tân Cương được phê chuẩn, hai bên vẫn còn phải bàn về vấn đề chi phí.
Hai kế hoạch nói trên là một phần trong chiến lược của các công ty dầu khí của Trung Quốc muốn tìm các nguồn năng lượng an toàn hơn trên thế giới. Hồi tháng 1 năm ngoái, CNOOC trả cho công ty dầu Tây Ban Nha Repsol-YPF 585 triệu USD để có được cổ phần dầu khí của Repsol-YPF ở Indonesia. Cùng năm đó, họ ký một hợp đồng khai thác khí tự nhiên Thềm Tây bắc Australia trị giá 12 tỷ USD trong 25 năm và một hợp đồng 7 tỷ USD ở mỏ dầu Tangguh (Indonesia). Trung Quốc có cổ phần đáng kể tại cả hai mỏ khí.
Đối với Bắc Kinh, Nga và Trung Á có sức hấp dẫn đặc biệt, bởi vì cả hai đều có chung đường biên giới với Trung Quốc. Nhờ vậy, công tác vận chuyển sẽ ổn định và chắc chắn hơn, đảm bảo an ninh năng lượng. Đây là chiến lược hàng đầu của Bắc Kinh. Các công ty Trung Quốc vì vậy không ngừng tìm cách giành chỗ đứng trong các mỏ dầu ở khu vực. Hồi tháng 6, CNPC đã tăng cổ phần trong công ty sản xuất dầu Aktobemunaigaz (Kazakhstan) từ 60% lên đến hơn 80%. Yukos cũng tỏ ra quan tâm đến việc hợp tác đầu tư với các công ty Trung Quốc ở Siberia.
Hợp tác về năng lượng với các nước láng giềng giúp Trung Quốc bớt lo bị Mỹ đe doạ. “Nga là nước đối trọng với Trung Đông và ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực này. Đó cũng là một cách đa dạng hoá các nguồn năng lượng nhập”, nhà kinh tế Jonathan Anderson thuộc UBS ở Hong Kong bình luận. Bắc Kinh luôn dè chừng Washington, nhưng lại không đủ tiềm lực tàu biển để tự nhập dầu. Vấn đề dễ gây sóng gió nhất trong quan hệ Mỹ - Trung là Đài Loan và chừng nào chưa có giải pháp ổn thỏa, an toàn trong vận chuyển đường biển không thể bị coi nhẹ. Mặt khác, kể từ sau sự kiện 11/9 và cuộc chiến ở Afghanistan, Washington đã có những căn cứ quân sự tại Uzbekistan và Kirgyzstan, đồng thời thiết lập quan hệ quân sự vói Kazakhstan. Bắc Kinh lo sợ Mỹ sẽ tìm cách cản trở tham vọng năng lượng của họ ở Trung Á.
Một mũi tên bắn hai con thỏ. Vừa đề phòng ảnh hưởng của Mỹ, vừa nhằm giải quyết vấn đề người Hồi giáo thiểu số ở miền tây, Bắc Kinh đang cố gắng thổi luồng sinh khí mới vào cơ quan an ninh của khu vực, Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), hội tụ Trung Quốc, Nga và các nước Trung Á Kazakhstan, Tajikistan, Kyrgystan và Uzbekistan. 'Trung Quốc sẽ không tìm cách làm bá chủ ở Trung Á. Đây chủ yếu vì lợi ích kinh tế mà thôi” Xu Xiaojie, tác giả cuốn “Con rồng dầu lửa” nhận xét.
Bắc Kinh đang ngày càng quan tâm đến an toàn năng lượng. Bằng chứng là một cơ quan năng lượng đã được lập ra, trực thuộc Uỷ ban Phát triển và Cải cách Nhà nước. Các chuyên gia tại đây đang nghiên cứu các chiến lược năng lược của Mỹ và Nga để tìm ra đối sách đúng đắn. Những công ty dầu khí lớn của Trung Quốc vẫn than phiền về nạn quan liêu trong nước, hy vọng sẽ có những cải cách để giúp họ đẩy nhanh tiến trình mua cổ phần ở nước ngoài. Bắc Kinh còn cần một chiến lược rõ ràng để giúp giảm tình trạng các công ty lớn của Trung Quốc cạnh tranh với nhau. “Trong nhiều trường hợp, các công ty đưa ra mức giá đấu thầu cao để thắng nhau - điều này làm chính phủ tốn thêm rất nhiều tiền. Cần phải giải quyết triệt để vấn đề này”, một quan chức bình luận.
Minh Châu (theo FEER)

Theo Vnexpress.net